Hoi thanh

Đức Tin Là Gì?

Vậy anh em được cứu nhờ ân phúc Thượng Đế, do đức tin nơi Chúa Cứu Thế.
Sự cứu rỗi là tặng phẩm của Thượng Đế, chớ không do anh em tự tạo.
Không phải là kết quả của công đức anh em, nên chẳng ai có thể khoe khoang.
Eph Ep 2:89

CHÚNG ta đã sẵn sàng đi bước kế tiếp trong việc tìm kiếm bình an trong Chúa. Bạn sẵn sàng từ bỏ quá khứ và tội lỗi của mình. Bạn đã quyết định phải có sự thay đổi trong đời sống mình. Bạn không còn xa cách Thượng Đế nữa, nhưng tiến tới để hưởng tình yêu mến, sự thương xót cùng sự che chở của Ngài. Bạn đã quyết định, đã lựa lối đi, đã ăn năn, đã chọn con đường chánh đáng, mặc dầu con đường này có vẻ khó khăn. Bạn đã chọn lấy con đường mà Mai-sen đi cách đây gần ba ngàn năm, khi ông từ bỏ quyền kế vị vua nước Ai-cập và quyết định theo Thượng Đế!

 

Mai-sen được bốn mươi tuổi khi ông thực hiện quyết định lớn lao đó, khi ông kết luận rằng đức tin và chân lý kèm theo thống khổ và gian nan là tốt đẹp hơn sự giàu có, danh vọng mà thiếu tình yêu của Thượng Đế. Trong lịch sử, ít có người được kêu gọi để thực hiện một quyết định khó khăn hơn trường hợp của ông.

Một con người của đức tin.

Mai-sen là người học thức, giàu sang, được tôn trọng. Là con trai của công chúa Pha-ra-ôn, ông quen hưởng mọi danh dự, xa hoa, đặc quyền. Ngai vàng xứ Ai-cập giàu nhất, mạnh nhất và huy hoàng kỳ diệu nhất thời bấy giờ, ở trong tầm tay ông.

Nhưng, Kinh Thánh chép rằng: “Bởi đức tin, khi đã khôn lớn, Mai-sen từ bỏ địa vị hoàng tử Ai-cập, tình nguyện cùng chịu áp bức với dân Chúa hơn là hưởng thụ cảnh giàu sang tội lỗi. Mai-sen xem sự sỉ nhục vì Chúa Cứu Thế cao quý hơn châu ngọc Ai-cập, vì ông trông đợi Chúa ban thưởng. Bởi đức tin, Mai-sen bỏ nước Ai-cập ra đi, không sợ nhà vua thù hận, vì ông đứng vững như thấy Chúa vô hình” (HeDt 11:24-27). Khúc sách này nói về Mai-sen sau bốn mươi năm ông sống trong đồng vắng với Thượng Đế - chớ không phải là chàng thanh niên hung hăng đã giết người rồi chạy trốn Pha-ra-ôn vì lo sợ cho mạng sống mình.

Xin chú ý, Kinh Thánh chép rằng Mai-sen đã “từ bỏ“ và “bỏ”. Những từ ngữ này chứng tỏ một sự ăn năn thật. Kinh Thánh lại chép, ông làm như thế “bởi đức tin!”. Đó là bước tiếp theo. Mai-sen đã quyết định điều đó không phải trong một trường hợp cảm xúc hiển nhiên mà một số nhà tâm lý học cho là cần thiết trong từng trải tôn giáo. Ông không bị sự bất mãn thúc đẩy. Không phải ông hoàn toàn không xứng đáng với địa vị của mình, hoặc không được thỏa mãn dục vọng. Ông không chọn lấy con đường của Thượng Đế để bù đắp vào những hạnh phước vì cho rằng mình đã bị thu hồi và cướp đoạt, ông cũng không vì buồn chán và hận đời mà xây qua đời sống tôn giáo. Ông không thiếu những trò hào hứng, giải trí và thú vui.

Một trường hợp tự chọn.

Trong trường hợp của Mai-sen, không có lý do nào như trên hay những lý do nào khác mà người ta thường nêu ra để chứng minh sự tìm kiếm Thượng Đế được xem là có giá trị. Ông không bị buộc phải chạy trốn bản tánh xác thịt và ma quỉ. Ông đã tự ý làm như thế. Mai-sen chắc chắn chẳng phải là một người có tinh thần hay ý chí yếu đuối. Ông không phải là một đứa bé bám lấy sự an toàn của một trật tự có sẵn. Ông không phải là một kẻ vô danh tiểu tốt muốn tìm danh vọng và uy tín. Ông không phải là người mà kẻ nhạo báng tôn giáo nói rằng phải là hạng người ấy thì mới cảm thấy cần sự cứu rỗi. Mai-sen có rất nhiều điều những người đó không có; nhưng do trí phán đoán chín chắn của tuổi thanh xuân, ông xây bỏ cảnh giàu có, địa vị và sự quí chuộng để chọn lấy đức tin nơi Thượng Đế.

Mỗi lần nghe nói chỉ những người vô vọng, bất tài, không hòa mình được với cuộc đời mới cần được tôn giáo an ủi, tôi lại nghĩ đến Mai-sen.

Tôi đã được vinh hạnh nói chuyện với hàng trăm ngàn người về những vấn đề liên quan đến đời sống thiêng liêng của họ. Tôi nhận thấy sở dĩ những người ấy lý luận đủ để cách từ chối Chúa Cứu Thế làm Chúa và Chủ của mình, không phải vì họ thấy giáo lý Cơ Đốc giáo đáng ghét trên phương diện tri thức, song vì muốn tránh những trách nhiệm và bổn phận mà đời sống Cơ Đốc đòi hỏi nơi họ. Chính tấm lòng yếu đuối của họ chớ không phải trí năng thông sáng đã ngăn cách họ với Chúa Cứu Thế. Họ không chịu đầu phục Chúa Cứu Thế và phó dâng mọi sự cho Ngài.

Điều lý thú đáng ghi nhận là hai nhân vật đã được Thượng Đế đại dụng hơn hết trong Kinh Thánh (một vị trong Cựu Ước và một vị trong Tân Ước) đều có trình độ học vấn uyên bác, đó là Mai-sen và Phao-lô. Mai-sen đã rất thận trọng nhận định những đòi hỏi và bổn phận tôn giáo. Ông nhận thức rằng muốn nắm lấy Thượng Đế, phải hy sinh những gì mà người ta thường coi là quí báu nhất. Ông không xem xét vội vàng. Ông không có những kết luận nửa vời vì bị thúc đẩy đột ngột hay phản ứng của xúc cảm. Ông biết mình đang gặp khó khăn đến mức nào, và ông đi tới quyết định sau khi vận dụng đầy đủ năng lực tối ưu của tinh thần đã được huấn luyện hẳn hòi. Sự lựa chọn cuối cùng của ông không mang tính chất một cuộc thử nghiệm tạm thời. Ông không lấy đức tin làm biện pháp thử nghiệm. Sự lựa chọn của ông là một thái độ xác tín nghiêm túc với mục đích không đổi dời, một sự xác tín không bị những biến cố hay thử thách lâu dài lay chuyển. Ông đã cẩn thận thiêu đốt những chiếc cầu và đánh đắm những con thuyền có thể giúp ông rút lui. Tám mươi tuổi, đến bước ngoặc quan trọng, Mai-sen đã phó mình trọn vẹn cho Thượng Đế, phục tùng các mạng lệnh Ngài bất cứ lúc nào và bất cứ cảnh ngộ nào.

Quyết định của Mai-sen khác hẳn của sử gia trứ danh Gamaliel Bradford, lúc gần qua đời, đã nói: “Tôi không dám đọc Tân Ước vì sợ khêu gợi lên một cơn bão tố lo phiền, nghi ngờ và sợ hãi, vì đã đi sai đường, đã phản bội Thượng Đế hiển nhiên”.

Mai-sen không sợ hãi như vậy. Bạn cũng thế, sẽ chẳng phải lo sợ gì nếu bạn thật lòng bởi đức tin quay về với Chúa Cứu Thế, ngay bây giờ và mãi mãi. Đừng quay về với Ngài và nói: “Tôi sẽ thử theo Cơ Đốc giáo ít lâu. Nếu có kết quả tốt, tôi sẽ tiếp tục, bằng không, tôi vẫn còn thì giờ để chọn một lối sống khác”. Khi đến với Chúa Cứu Thế, bạn phải đốt hết mọi chiếc cầu phía sau và không bao giờ nghĩ là sẽ quay trở lại.

‘Lên thuyền để quay trở lại.

Cách đây nhiều năm, khi ngọn cờ phượng hoàng hùng dũng của quân đội La-mã rủ bóng đe dọa toàn thế giới, hoàng đế La-mã đã kéo những binh đoàn chiến sĩ gan lì lên đường chinh phục Anh quốc. Khi thấy chiến thuyền địch xuất hiện ở chân trời, hằng ngàn dân Anh đã can đảm tập trung tại các đồi cao để bảo vệ quê hương. Họ hoàn toàn ngơ ngác vì khi đổ bộ, việc đầu tiên quân La-mã làm là đốt hết chiến thuyền. Khi các chiến thuyền đã bị thiêu hủy thì phương tiện duy nhất để các chiến sĩ anh dũng đó rút lui đã bị cắt đứt. Với tinh thần cương quyết ấy, làm sao quân La-mã có thể thất bại trong công cuộc chinh phục được! Thảo nào ngôi làng nhỏ bé trên bờ sông Tibre đã làm bá chủ cả thế giới!

Cũng một thể ấy, Chúa Cứu Thế đòi hỏi sự đầu phục và phó dâng tuyệt đối. “Chúa Giê-xu phán rằng: ai đã tra tay cầm cày, còn ngó lại đằng sau, thì không xứng đáng với Nước của Thượng Đế” (LuLc 9:62).

Đứng trước ngã rẽ cuộc đời, Mai-sen đã thực hiện một quyết định rúng động linh hồn. Trí phán đoán minh mẫn của ông đã cân nhắc mọi sự kiện ảnh hưởng đến quyết định của mình. Ông đã nhìn cẩn thận và sâu xa đến tận cuối mỗi con đường. Ông xem xét tất cả lợi hại rồi mới quyết định đặt lòng trông cậy và đức tin nơi Thượng Đế.

Mai-sen đốt hết những chiếc cầu.

Trước hết, ông nhìn con đường rộng rãi và sáng láng đầy thế lực và xa hoa, vui thỏa và rượu chè, dồi dào những điều thế gian cho là khoái lạc. Đó là con đường quen thuộc mà ông biết rất rõ. Ông từng đi con đường ấy suốt bốn mươi năm và biết rằng cuối cùng, nó sẽ đưa tới hủy diệt và dẫn đến địa ngục mà thôi.

Rồi Mai-sen lại nhìn xem con đường kia, con đường hẹp hòi, khó khăn hơn. Ông thấy đau khổ, buồn phiền, tủi nhục và thất vọng. Ông thấy những khó khăn và thử thách, những buồn rầu và đau đớn, nhưng bởi đức tin ông cũng thấy những chiến thắng và phần thưởng của sự sống vĩnh cửu.

Một người kém suy xét và ít kinh nghiệm hơn Mai-sen, có thể bị cám dỗ đi vào con đường thứ nhất. Ai-cập lúc bấy giờ là một đại cường quốc vào bậc nhất thế giới. Quốc gia này kiểm soát lưu vực sông Nile phì nhiêu, là vựa lúa của thế giới. Quân đội Ai-cập bách chiến bách thắng, các trường kỹ thuật và đại học đang đặt những nền móng cho những thế kỷ sau noi theo.

Ít người trong chúng ta bị đòi hỏi phải từ bỏ nhiều điều vì cớ Thượng Đế như Mai-sen. Ít người trong chúng ta từng gặp nhiều cám dỗ dưới những hình thức khác nhau như vậy. Ít người trong chúng ta có những lạc thú trần gian như vậy bày ra trước mặt mình, và Kinh Thánh cũng nhìn nhận rằng trong tội lỗi có sự vui sướng, dầu chỉ là tạm bợ. Thú vui qua mau và khi tỉnh dậy, ta chẳng thư thái chút nào.

Chọn lựa Thượng Đế, Mai-sen đã hy sinh rất nhiều, nhưng ông cũng đã hưởng được một phần thưởng vĩ đại. Đương thời Mai-sen, ít có người đại phú và thật ít người có cơ hội như ông để trở thành kẻ giàu nhất thế giới.

Của cải trần gian.

Ngày nay, nhiều người có thể tích lũy những gia tài khổng lồ. Năm 1923 (khi có nhiều người chủ trương tập trung tư bản) một nhóm các nhà tài chánh thành công nhất thế giới đã họp nhau tại khách sạn Edgewater Beach ở Chicago. Dù tuổi họ chưa đến ba mươi, cuộc hội họp đó đã phô trương sự giàu sang và thế lực quá mức. Cùng ngồi quanh bàn với nhau có Chủ Tịch Công ty Thép lớn nhất thế giới, Chủ Tịch Công Ty Tín dụng lớn nhất, Nhà Buôn lúa mì giàu nhất, Chủ Tịch Ngân Hàng Chứng Khoán Nữa Ước, Nhân viên trong Nội các của Tổng Thống Mỹ, Chủ tịch Ngân Hàng Giao Dịch Quốc Tế, người được coi là thương gia lớn nhất khu Wall Street; và một người khác nữa điều khiển một công ty độc quyền lớn mạnh nhất thế giới. Tổng cộng tài sản của những người đó nhiều hơn Ngân Khố Hoa-Kỳ! Thành tích về đời sống của họ được phổ biến rộng rãi vì rất hấp dẫn mỗi học sinh. Họ là những mẫu người mà nhiều người khác cố bắt chước. Họ là những người khổng lồ của nền tài chánh và kỹ nghệ Mỹ quốc!

Năm 1923, thành tích được phổ biến rộng rãi về đời sống họ thật rất hấp dẫn và hào hứng. Nó kích thích trí tưởng tượng, xúi giục lòng ganh ghét và gợi hứng cho những người khác để cố gắng mong được như họ! Nhưng năm 1923, tiểu sử cuộc đời của họ chỉ mới được phân nửa - những chương kết thúc chưa viết xong.

Lúc những người này ngồi trong khách sạn tại Chicago, đời sống cá nhân của họ đang ở vào địa vị mà Mai-sen đã trải qua khi đứng trước ngã ba đường. Những người này cũng thế, họ đang ở ngã ba và trước mặt mỗi người có hai con đường. Hai con đường đó có lẽ vô hình đối với họ, và họ cũng không lưu tâm tới. Chắc hẳn đó là con đường họ không chọn lựa và đến nay thì tiểu sử của họ đã viết xong. Ngày nay, chúng ta biết được những chương kết thúc. Chúng ta có thể ôn lại đời sống họ cũng như ôn lại đời sống Mai-sen, và xem thử đời sống nào có vẻ khôn ngoan nhất và tốt đẹp nhất.

Charles Schwab, Chủ Tịch Công ty Thép, trong những ngày cuối đời mình, phải vay mượn tiền bạc mà sống, và lúc chết không một xu dính túi. Arthur Cutten, nhà đầu cơ tích trữ lúa mì lớn nhất đã vỡ nợ và chết ở hải ngoại. Richard Whitney, Chủ Tịch Ngân hàng Chứng Khoán Nữu-Ước đã thọ hình tại nhà giam Sing Sing. Albert Paul, nhân viên Nội các, được phép chết tại nhà thay vì trong khám đường. Jesse Livermore, “con gấu” của khu tài phiệt Wall Street; Leon Frazer, Chủ tịch Ngân Hàng Giao Dịch Quốc Tế và Ivon Kreuger, cầm đầu tổ chức độc quyền lớn nhất thế giới, đều tự sát!

Những người này đều có tiền bạc, thế lực, danh vọng, uy tín, óc thông minh và học thức - nhưng tất cả đều thiếu một đặc tính làm cho đời sống có được ý nghĩa và mục đích chân chánh. Họ thiếu đặc tính duy nhất quan yếu của giáo điều và phẩm cách Cơ Đốc tức là đặc tính làm cho họ biến cải và thật được tái sanh. Họ đã từ chối không chịu tin! Hãy so sánh cuộc đời họ với đời sống của các giáo sĩ đã từ bỏ tất cả để noi theo Chúa Cứu Thế. Rất có thể họ chết đi trong đau đớn và không một xu dính túi, nhưng họ đã chết cho một điều gì đó!

Những người này không có đức tin, hoặc nếu có thì họ đã không hành động theo đức tin. Nếu họ chịu xem đức tin nơi Chúa Cứu Thế là một trong những kho tàng quí giá thì những chương cuối cùng của đời họ sẽ khác biết bao.

Mai-sen đã quay lưng lại với của cải trần gian.

Hãy để ý là: Bởi đức tin, Mai-sen đã từ bỏ sự giàu sang của Ai-cập. Chính đức tin đã khiến ông biết rằng dù phải chịu đau khổ vì thiếu thốn và tủi nhục trong suốt quãng đời còn lại trên thế gian, cuối cùng, ông sẽ nhận được phần ban thưởng lớn nhất - sự sống vĩnh cửu.

Những người như Cutten và Schwab có lẽ đã cho Mai-sen là khờ dại. Có lẽ họ đã nói: “Một con chim nắm trong tay có giá trị hơn hai con chim trong bụi”. Có lẽ họ đã lên tiếng: “Này, ông thừa biết mình có những gì tại Ai-cập. Một người có đầu óc như ông thừa biết mình có thể làm gì để vận dụng sản nghiệp và quyền lực đó. Cứ đánh ván bài là Ai-cập sẽ kiểm soát thế giới. Ông có thể loại tất cả những nước kém hơn. Ông có thể tiêu diệt tất cả những kẻ cạnh tranh và điều hành mọi việc theo đường lối mình”. Đó là điều họ có thể nói, vì đó là đường lối suy nghĩ, hoạt động, và là cách mà nhiều người trong bọn họ đã tích lũy sản nghiệp mình. Họ sẽ cười người nào nói rằng mình tin Thượng Đế hoặc mình có đức tin nơi Chúa Cứu Thế. Họ có thể nói: “Đức tin không phải là một dịch vụ tốt, chẳng phải là khôn ngoan”.

Kinh Thánh dạy rằng đức tin là con đường duy nhất để đến gần Thượng Đế. “Vì người đến gần Thượng Đế, phải tin Ngài có thật, và Ngài luôn tưởng thưởng xứng đáng cho người tìm cầu Ngài” (HeDt 11:6b). Kinh Thánh cũng dạy rằng đức tin làm đẹp ý Thượng Đế hơn bất cứ điều gì khác. “Người không có đức tin không thể nào hài lòng Thượng Đế” (HeDt 11:6a).

Khắp thế giới, người ta tự hành hạ thân xác, mặc quần áo kỳ lạ, làm cho thân thể biến dạng, tự chối bỏ những nhu cầu của đời sống, dành nhiều thì giờ vào sự cầu nguyện và hy sinh, nỗ lực làm cho Thượng Đế nhìn thấy và chấp nhận họ. Tất cả những điều đó có thể rất tốt đẹp, nhưng điều lớn lao nhất chúng ta có thể làm để đẹp lòng Thượng Đế chính là tin Ngài.

Tôi có thể đến nhà một người bạn và khen ngợi người đó, nhưng nếu sau mọi lời hoa mỹ, tôi lại bảo rằng tôi không tin tưởng anh ấy, thì mọi lời nói trước sẽ vô hiệu. Tôi chỉ đưa bạn tôi lên cao rồi hất xuống.

Điều thiết yếu là tin

Phương pháp cao đẹp nhất chúng ta có thể làm đẹp ý Thượng Đế chính là tin Lời Ngài. Lúc Chúa Cứu Thế phán: “Các con phải tin ta ở trong Cha và Cha ở trong ta. Nếu không, các con hãy tin công việc ta” (GiGa 14:11), Ngài như có vẻ nài nỉ những người nghe Ngài giảng dạy phải có đức tin.

Kinh Thánh tuyên bố rằng đức tin là điều tuyệt đối quan trọng. Bạn sẽ hỏi: “Nếu đức tin quan trọng như vậy, thì đức tin là gì? Đức tin có nghĩa gì? Định nghĩa đức tin ra sao? Làm sao có thể biết được là tôi có đức tin đúng đắn? Tôi phải tin đến mức nào?”

Xin chờ một phút - xin đừng hỏi nhiều câu cùng một lúc! Tôi sẽ cố trả lời những câu hỏi trên cách tuần tự.

Kinh Thánh nhiều lần dạy rằng chúng ta được cứu rỗi chỉ nhờ đức tin mà thôi:

“Tin Chúa Cứu Thế Giê-xu, thì ông và cả nhà ông sẽ được cứu” (Cong Cv 16:31).

“Tất cả những người tiếp nhận Chúa đều được quyền làm con cái Thượng Đế - tiếp nhận Chúa là đặt niềm tin nơi Chúa” (GiGa 1:12).

“Ai tin Chúa Cứu Thế đều được tha thứ tất cả tội lỗi và được Chúa thừa nhận là người công chính” (Cong Cv 13:39).

“Còn người không làm việc, nhưng tin Thượng Đế có quyền tha tội cho mình, người ấy hưởng ân huệ và được kể là công chính nhờ đức tin” (RoRm 4:5).

“Vậy, nhờ đức tin chúng ta được kể là công chính, qua trung gian Chúa Cứu Thế Giê-xu" (5:1).

“Nhưng ta chẳng bao giờ rút lui, bỏ cuộc, để rồi bị hủy diệt. Trái lại, ta giữ vững đức tin để linh hồn được cứu rỗi” (HeDt 10:39).

“Vậy anh em được cứu nhờ ân phúc Thượng Đế, do đức tin nơi Chúa Cứu Thế. Đây là một tặng phẩm của Thượng Đế, chớ không do anh em” (Eph Ep 2:8).

 

THƯ VIỆN

  

TIN MỚI NHẤT

VIDEO MỚI NHẤT

Get the Flash Player to see this player.

Kết nối với Vrmcenter trên FB

LƯỢT TRUY CẬP

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterTrong ngày78
mod_vvisit_counterHôm qua484
mod_vvisit_counterTrong tuần78
mod_vvisit_counterTrong tháng18262
We have: 5 guests, 1 bots online
 ,